Kỹ thuật nuôi hải sâm

Hải sâm là một loại hải sản có giá trị kinh tế cao, do đặc tính sống ở vùng nước nông, di chuyển chậm nên trong những năm qua, loài hải sản này đang bị khai thác với cường độ lớn và có nguy cơ cạn kiệt. Nghề nuôi hải sâm thương phẩm mặc dù mới xuất hiện trên địa bàn tỉnh gần đây nhưng bước đầu đã mang lại hiệu quả khá cao cho người nuôi, từng bước hạn chế tình trạng khai thác cạn kiệt nguồn lợi hải sản này và góp phần bảo vệ môi trường.
Kỹ thuật nuôi hải sâm
I. NUÔI HẢI SÂM GIỐNG

1. Đặc điểm
- Hải sâm cát (Holothuria scabra) là loài nhuyễn thể sống ở đáy những vùng nước nông và di chuyển chậm. Hải sâm nhiệt đới phân bố rộng trong khu vực Ấn Độ- Thái  Bình Dương. Hải sâm là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực y học.

- Nuôi hải sâm, ngoài lợi ích kinh tế, còn góp phần cải tạo môi trường sinh thái trong các ao nuôi hải sản, vì hải sâm ăn các mùn, bã hữu cơ dưới đáy ao, góp phần làm sạch ao nuôi.

- Do hải sâm cát sống ở vùng nước nông và di chuyển chậm, nên chúng bị khai thác ngày càng cạn kiệt. Nhằm phục hồi và phát triển nguồn lợi này, hiện nay việc cho sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm hải sâm cát đang được quan tâm và ngày càng phát triển.

2. Nuôi hải sâm bố mẹ

- Chọn hải sâm khai thác từ tự nhiên, khỏe mạnh, không trầy xước, có trong lượng > 250g/con đưa vào nuôi trong các đăng trên biển hoặc ao đất với mật độ 1 con/m2.

- Môi trường nuôi đảm bảo độ mặn > 25%o

- Thời gian nuôi từ 4- 8 tháng

* Kích thích sinh sản và thu trứng

- Do khó khăn trong việc phân biệt cá thể đực, cái, nên mỗi đợt sinh sản cần chọn 30- 40 con để kích thích cho đẻ.

- Phải rửa sạch hải sâm trước khi chuyển vào bể đẻ và sục khí 24/24 giờ.

- Phương pháp kích thích đẻ ở trại là sốc nhiệt với nhiệt độ tăng thêm 4- 6 độ C, kết hợp với tia cực tím. Ngoài ra cũng có thể kích thích hải sâm đẻ bằng phương pháp sốc nhiệt phối hợp với tảo khô hoặc trộn tuyến sinh dục đã thành thục cắt từ con đực cho vào thức ăn.

- Trước khi đẻ, hải sâm có dấu hiệu lăn và chuyển động không ngừng. Con đực thường phóng tinh trước bằng cách lắc lư và mở phần trước ra.

- Sau khi kích thích vài giờ, con đực phóng tinh; con cái bị kích thích bởi con đực và đẻ trứng sau khoảng 20- 30 phút, theo từng đợt ngắn và mạnh. Trứng được thụ tinh với tỷ lệ khoảng 94% và rất ít xẩy ra những bất thường trong phân chia tế bào (trung bình chỉ hỏng 3- 5% trong tổng số lần đẻ).

- Sau đó cấp thêm nước mới vào bể đẻ để làm loãng mật độ trứng.

- Trứng được vớt ra khỏi bể ương bằng vợt, hoặc dùng ống xi phông hút trứng đã được thụ tinh cách đáy từ 1- 2cm, không hút trứng chìm dưới đáy bể.

- Lọc rửa trứng trong nước đã lọc qua sàng lưới và ấp ở nhiệt độ 27 độ C cho đến khi trứng nở.

* Ương nuôi ấu trùng

- Trứng sạch được chuyển vào bể ấp với mật độ từ 1- 2,5 trứng/ml.

- Sau khoảng 36- 40 giờ, trứng nở thành ấu trùng tiền Aurcularia.

- Ấu trùng được chuyển vào bể ương với mật độ 0.3- 0.7 con/ml.

- Thức ăn của ấu trùng giai đoạn này là các loại tảo đơn bào Chaetoceos muelleri, Nannochloropsis sp và hỗn hợp tảo khô Spirulina và Algamac.

- Ấu trùng tiền Auricularia biến thái thành ấu trùng hậu Auricularia, rồi ấu trùng Doliolaria.

- Sau 10- 15 ngày ấu trùng Doliolaria biến thái thành ấu trùng Pentactula chìm xuống đáy, bám vào vật bám.

- Thức ăn của ấu trùng bám là loại tảo đáy, tảo khô và thức ăn tổng hợp.

- Các yếu tố môi trường chủ yếu cần đảm bảo là độ mặn 30- 32%o, nhiệt độ nước 27- 30 độ C, pH 7,5- 8,5.

- Sau 30- 45 ngày ấu trùng đạt kích thước 1-2mm thì mang ra thả giống.

* Nuôi giống
Giai đoạn ương nuôi kéo dài từ lúc hải sâm còn là ấu trùng Pentacula đến khi đạt kích cỡ 30- 60mm, thường là 8- 10 tuần. Ấu trùng ăn Algamac 2000 hoặc các loại tảo cát có ở mặt đáy và dần đạt tới giai đoạn con giống.

Hải sâm giống nuôi trong bể:

- Hải sâm giống nuôi trong bể với hệ thống nước chảy. Thức ăn được bổ sung thêm tảo chết, tảo cát và tảo đã tán thành bột (Algamac 2000, Algamac Protein Plus). Khi hải sâm đạt kích thước 15- 20mm chiều dài thì cho ăn tảo đã tán thành bột và cỏ biển trộn với cát tinh.- Trong vòng 3 tháng, hải sâm sẽ đạt kích thước vừa đủ để chuyển sang nuôi. Nếu nhiệt độ nước thấp, thời gian này có thể kéo dào thêm từ 2- 3 tuần. Một số hải sâm giống có thể lớn nhanh hơn các con khác, do đó cần phải phân loại kích cỡ.

- Tỷ lệ chế ở giai đoạn nuôi hải sâm giống có thể giảm thiểu tới mức dưới 25%, nếu được giám sát chặt chẽ.

Nuôi giống trên biển:

- Hải sâm giống được thả nuôi ở những vùng có biển trong thời gian thủy triều rút, nhằm tái tạo quần đàn trong tự nhiên.

- Trong điều kiện thuận lợi và được bảo vệ tốt, hải sâm giống bố mẹ có thể đạt kích cỡ thu hoạch là 350g trong vòng 15- 18 tháng. Tuy nhiên, mức tăng trưởng của hải sâm còn phụ thuộc vào nhiệt độ nước và tính ổn định của tầng đáy. Các vùng đầm phá nước nông có thảm cỏ biển là môi trường lý tưởng để nuôi hải sâm vì có tầng đáy ổn định và ít dòng chảy.
 

II. NUÔI HẢI SÂM THƯƠNG PHẨM

1. Nuôi hải sâm kết hợp với tôm hùm và vẹm xanh

Hình thức nuôi và điều kiện môi trường
- Lồng nuôi thuộc dạng lồng găm cố định, có diện tích 50m2/lồng. Lồng bằng trụ gỗ có lưới nhựa, hoặc nilông bao quanh, phía trên lồng có lưới chắn.

Các điều kiện khác:
- Độ mặn: dao động từ 32- 33%o
- pH: dao động từ 7,9- 8,2
- Nhiệt độ nước: 28- 29 độ C
- Độ sâu nước: khoảng 3,5- 4m (lúc thủy triều thấp nhất)
- Đáy lồng: là đáy cát

Vị trí đặt lồng nuôi ở nơi ít bị tác động của sóng, gió, nước ngọt đổ ra trực tiếp.

Thả giống

Tiến hành thả giống tôm hùm, hải sâm, vẹm xanh với kích cỡ, số lượng như sau:
+ Tôm hùm: 50 con (150gr/con)
+ Hải sâm: 5.000 con(10gr/con)
+ Vẹm xanh: 60.000 con (3gr/con)

Quản lý và chăm sóc

Cho ăn
Trong suốt quá trình nuôi, chỉ cho tôm hùm ăn, còn hải sâm, vẹm xanh không phải cho ăn. Thức ăn tôm hùm là các loại cá tạp, nhuyễn thể, cua ghẹ tươi có sẵn tại địa phương. Liều lượng thức ăn trong ngày bằng 10% khối lượng tôm thả nuôi. Khi tôm còn nhỏ, thức ăn phải băm nhỏ, khi tôm lớn cho thức ăn vừa cỡ tôm (không phải băm nhỏ).

Chăm sóc
Đối với tôm hùm: Hàng ngày cần phải lặn để kiểm tra, vớt thức thừa, nhặt vỏ tôm lột; kiểm tra lưới chắn, kịp thời vá lại những chỗ rách, chà rửa vệ sinh lưới nhằm đảm bảo môi trường sạch, nước thông thoáng để giúp tôm mau lớn. Ngoài ra cần thường xuyên kiểm tra sức khỏe tôm, kiểm tra vỏ tôm và các phần phụ để xử lý kịp thời các sự cố.

Đối với hải sâm: Định kỳ 10 ngày lặn một lần để kiểm tra tốc độ sinh trưởng và sức khỏe của hải sâm.

Đối với vẹm xanh: Cứ 3ngày/lần kéo dây nuôi lên để kiểm tra tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng, làm vệ sinh dây nuôi và cạo sạch vật bẩn bám vào vẹm.

Hiệu quả kinh tế-kỹ thuật

Phương pháp nuôi ghép như trên tận dụng được không gian, diện tích mặt nước và công lao động
Cả 3 đối tượng nuôi không ảnh hưởng, cạnh tranh lẫn nhau
Phần đầu tư ban đầu cho nuôi hải sâm, vẹm xanh thấp, không đáng kể, vì không phải chi phí thức ăn
Tôm hùm, hải sâm, vẹm xanh nuôi ghép đều tăng trưởng tốt; tôm ít dịch bệnh và có tỷ lệ sống(88%) so với nuôi đơn (70- 75%) do môi trường nước và đáy lồng được hải sâm, vẹm xanh ăn lọc các chất mùn bã hữu cơ, làm sạch môi trường
Tỷ suất lợi nhuận của nuôi ghép đạt khoảng 40%, cao hơn so với nuôi đơn (13% do thu thêm sản phẩm hải sâm, vẹm xanh).
 
Nuôi hải sâm với tôm sú trong ao
Chọn đại điểm ao nuôi
Ao nuôi phải gần đường giao thông, gần mương cấp thoát nước, ít bị tác động của gió
Ao nên có diện tích khoảng 5.000m2, có đầy đủ các điều kiện:
+ Độ mặn: từ 25- 30%o
+ Độ pH: từ 7,5- 8,5
+ Nhiệt độ nước: từ 26- 29 độ C
+ Mực nước ao: 1,2m
+ Đáy ao: bùn cát

Thả giống
Ao nuôi sau khi đã cải tạo xong thì tiến hành thả giống hải sâm; Hải sâm giống mua gom từ khai thác tự nhiên tại địa phương, hoặc trong các trại giống, có kích cỡ 10gr/con; mật độ thả 01 con/m2. Khoảng sau 2 tháng nuôi thì tiến hành thả tôm sú giống PL15 với mật độ 5con/m2.

Quản lý và chăm sóc
Cho ăn:
+ Trong quá trình nuôi chỉ cho tôm sú ăn, còn hải sâm ăn mùn, bã hữu cơ dưới đáy ao. Thức ăn của tôm là thức ăn công nghiệp
+ Liều lượng ăn hàng ngày bằng 8- 10% khối lượng tôm thả nuôi
+ Thức ăn theo kích cỡ của tôm

Quản lý và chăm sóc:
+ Hàng ngày, khi cho tôm ăn, chú ý theo dõi màu nước (luôn giữ cho màu nước trong ao có màu vàng xanh); quan sát nếu thấy nước bị nhạt (mật độ tảo thấp) thì bón thêm phân và vôi để tảo phát triển

+ Định kỳ đo pH nước ao để điều chỉnh kịp thời (luôn đảm bảo khoảng 7,5- 8,5), nhằm giúp tôm không bị sốc; kiểm tra độ kiềm của nước, nhất là những lúc có mưa để bón thêm vôi

+ Theo dõi lượng thức ăn khi cho tôm ăn, tránh dư thừa gây lãng phí và ô nhiễm nước ao, ảnh hưởng đến hải sâm

+ Định kỳ 15 ngày, chài tôm một lần để kiểm tra độ tăng trưởng của tôm, đồng thời lặn xuống đáy vớt hải sâm để cân kiểm tra trọng lượng nhằm xác định tốc độ tăng trưởng của hải sâm

+ Dùng các chế phẩm sinh học để xử lý đáy ao, phòng ngừa ô nhiễm đáy, ảnh hưởng đến hải sâm.
 
ĐH (Theo Sổ tay KHCN thanh niên)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn muốn khởi nghiệp bằng con đường nào?

Thống kê
  • Đang truy cập12
  • Hôm nay25
  • Tháng hiện tại798
  • Tổng lượt truy cập327,771
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây